NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN MANG ÂM HƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG "LÉN NHẶT CHUYỆN ĐỜI" VÀ "DẪU CÓ RA ĐI VẪN SẼ CƯỜI" CỦA MỘC TRẦM

Thứ ba - 05/05/2026 04:43
Bài báo hướng đến nhận diện nghệ thuật kể chuyện mang âm hưởng Phật giáo trong hai tập truyện Lén nhặt chuyện đời và Dẫu có ra đi vẫn sẽ cười của Mộc Trầm. Qua khảo sát, có thể thấy chủ thể trần thuật được kiến tạo với giọng điệu an nhiên, dung dị, mang âm hưởng thiền vị; nhờ đó, câu chuyện vừa phản ánh hiện thực vừa mở ra không gian chiêm nghiệm. Điểm nhìn linh hoạt, kết cấu mở cùng sự lồng ghép tự nhiên các giáo lý như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, vô thường, nhân duyên – nghiệp báo đã góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm. Nghệ thuật kể chuyện của Mộc Trầm không chỉ là thủ pháp văn chương mà còn là phương tiện truyền đạt tinh thần từ bi và giác ngộ.
NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN MANG ÂM HƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG "LÉN NHẶT CHUYỆN ĐỜI" VÀ "DẪU CÓ RA ĐI VẪN SẼ CƯỜI" CỦA MỘC TRẦM
1.  Mở đầu
Trong lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là nguồn cảm hứng sâu sắc cho tư tưởng, nghệ thuật, và đời sống tinh thần. Những tác phẩm văn chương mang tinh thần Phật học đã cho thấy khả năng kết nối đạo và đời, thiêng và tục, bằng chính nghệ thuật kể chuyện dung dị, nhân hậu và giàu chiêm nghiệm. Tác phẩm Lén nhặt chuyện đời và Dẫu có ra đi vẫn sẽ cười của Mộc Trầm là những minh chứng tiêu biểu, nơi tác giả khắc họa hình ảnh con người Phật giáo đối diện với các biến động và tình thế xã hội. Cảm hứng Phật giáo trong tác phẩm của Mộc Trầm không nằm ở lớp vỏ hình thức, mà bàng bạc trong cách nhìn về con người, cách xây dựng cốt truyện, tổ chức giọng điệu, và đặc biệt là trong điểm nhìn trần thuật thấm nhuần tinh thần vô ngã, từ bi, giác ngộ. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về thi pháp kể chuyện của hai tác phẩm này. Với mục đích nhận diện và phân tích nghệ thuật kể chuyện mang âm hưởng Phật giáo của Mộc Trầm, bài báo vận dụng lý thuyết thi pháp học, cùng các phương pháp nghiên cứu như cấu trúc – hệ thống, phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu và văn hóa – lịch sử, để tiếp cận các phương diện chủ thể, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Thông qua những kết quả nghiên cứu được trình bày, bài báo là một trong những tiếng nói đầu tiên nỗ lực xác định đặc điểm thi pháp văn xuôi Mộc Trầm, định vị dấu ấn của nhà văn này trong dòng chảy của văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
z7787545222431 8f0f7cdf83bcdadbcbbefd58a093d5cf

2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Chủ thể trần thuật truyền đạt giáo lý trong sự kết hợp đa dạng điểm nhìn hướng vào thế giới tinh thần
Chủ thể trần thuật trong các tác phẩm mang cảm hứng Phật giáo thường không đứng ở vị thế cao ngạo của toàn tri toàn năng. Thay vào đó, họ thường là người chứng kiến, người trải nghiệm, hoặc thậm chí người tỉnh thức sau đau khổ – những hình ảnh rất gần với hành trình tu chứng trong đạo Phật. Chủ thể ấy có thể là một hành giả, một thiền sinh, một kẻ từng sa ngã nhưng nay bước vào đạo, hoặc đơn giản là một con người đang đối diện với sự khổ đau trong kiếp nhân sinh. Trong văn chương mang cảm hứng Phật giáo, điểm nhìn trần thuật không phải lúc nào cũng cố định ở một nhân vật hay một chủ thể cá biệt. Nó có thể luân chuyển, dịch chuyển giữa các cõi, hoặc thậm chí xóa nhòa ranh giới giữa nhân vật và người kể, giữa chủ thể và tha thể. Đây là điểm đặc biệt khi so với điểm nhìn truyền thống trong tự sự. Ví như trong văn học Phật giáo hiện đại có hai tác phẩm Dẫu có ra đi vẫn sẽ cườiLén nhặt chuyện đời của Mộc Trầm, điểm nhìn thường đặt vào những con người nhỏ bé, lầm lạc, nhưng được nhìn bằng cái nhìn từ ái, bao dung. Đó là một kiểu điểm nhìn giàu tính từ bi quán – nhìn thấy bản chất khổ đau nhưng không phán xét, mà mong mỏi sự chuyển hóa. Người kể chuyện không phải để vạch tội hay kết án, mà để “nhìn thấy” và “hiểu được” theo tinh thần của “tri kiến Phật”. Điểm nhìn ấy có khi lại đứng từ khoảng cách rộng lớn – cái nhìn “như thị” không can thiệp, không ép buộc, để mọi sự vật hiện hữu như chúng vốn là. Đó chính là điểm nhìn phù hợp với triết lý tánh không, duyên sinh, và vô ngã trong Phật giáo. Khi kết hợp các yếu tố này, ta thấy rõ cấu trúc của một cảm hứng thiền: không có một cái tôi ngã mạn hay trần thuật áp đặt, không có một điểm nhìn chi phối hiện thực, mà là sự “buông xả” ngay trong cấu trúc kể chuyện. Nhiều tác phẩm không đi theo tuyến tính nhân quả kiểu đời thường mà vận động theo kiểu giác ngộ: một chi tiết nhỏ, một cú chạm nhẹ của hiện thực cũng đủ làm bật lên chân lý. Ở đó, giọng kể không còn là giọng kể đơn thuần mà là một hành trình tâm linh người đọc không chỉ nghe kể mà như đang cùng hành với người kể trên con đường đi vào bản thể, nhận diện khổ đau, và thắp lên ánh sáng tự do nội tại. Ở cả hai tập truyện Dẫu có ra đi vẫn sẽ cườiLén nhặt chuyện đời, chủ thể kể chuyện không phải là một người kể toàn tri áp đặt chân lý, mà thường là một người “đang đi”, đang “hành đạo” giữa đời sống thường nhật. Nhân vật kể chuyện có khi là ngôi thứ nhất – xưng “tôi”, có khi ẩn mình sau ngôi ba – nhưng dù ở vị trí nào, họ đều không nhằm “phán xét” hay “diễn giãi” cuộc đời, mà như đang đồng hành, đang “tùy duyên”. Cách kể chuyện ấy khiến người đọc không cảm thấy bị lôi kéo, mà được mời gọi cùng chiêm nghiệm. Điển hình như trong truyện “Phía sau tấm áo cà sa” (Lén nhặt chuyện đời), nhân vật kể chuyện theo dõi cuộc đời của một người con gái, có cảm tình với một chàng trai, anh ta là một người đàn ông khoẻ mạnh bình thường, bỗng một ngày anh ta có trong mình chí nguyện xuất gia, anh ta im lặng một thời gian lâu sau đó mới viết thư gửi cho cô gái và giãi bày lòng mình để cô gái không đợi chờ và quên đi mình. Chuyện không có cú ngoặt kịch tính, chỉ là những lát cắt vụn vặt của đời sống. Nhưng với điểm nhìn tập trung vào những chi tiết nội tâm, tâm lí của người con gái, khi đem lòng cảm mến chàng trai có lý tưởng xuất gia như vậy, tác giả Mộc Trầm đã dựa vào chính câu chuyện của Đức Phật để làm dẫn chứng để phần nào xoa dịu đi tâm lí nặng nề của cô gái.
“Nếu bạn có tìm hiểu đạo Phật thì chắc bạn biết công chúa Da Du Đà La là vợ của Thái tử trước khi đi tu. Biết chồng mình có chí nguyện xuất gia, nhưng nàng vẫn không cản. Người đàn bà nào cũng mong muốn mình có một hạnh phúc trọn vẹn, muốn mình là người duy nhất chiếm được tình yêu đó. Bởi vì, tình yêu chính là sự ích kỷ. Một bên là hạnh phúc của mình, một bên là hạnh phúc của chồng, nhưng nàng vẫn chấp nhận hy sinh để chồng mình xuất gia. Lặng thầm theo dõi bước chân Thái tử cho đến ngày ngài thành Phật. Và nàng được xem là người đàn bà tuyệt vời nhất. Tại vì sao nàng làm được như vậy bạn biết không? Đó là vì nàng nghĩ cho hạnh phúc của nhiều người. Xuất gia là lý tưởng, xuất gia là con đường đem đến hạnh phúc cho bản thân và mọi người nên thà mình chịu hy sinh để mọi người được hạnh phúc. Mình nghĩ là bạn sẽ làm được. Bạn yêu và muốn anh ấy hạnh phúc hay muốn anh ấy ở bên bạn mà đau khổ? Vậy nên hãy để anh ấy đi một cách ung dung không vướng bận nhất. Nếu bạn muốn anh ấy đi một cách không lo lắng gì về bạn, bạn có thể nhắn một tin nhắn cho anh ấy, nói là em vẫn ổn, em tôn trọng sự lựa chọn của anh và vẫn hạnh phúc khi anh được hạnh phúc, và anh nhớ rằng hãy làm nhiều người khác hạnh phúc bằng chí nguyện của mình, nếu không thì anh đang phụ lòng của em đấy!” [9, tr.31].
 Một lời khuyên nhủ khiến người đọc không thể không lắng lại. Đó là cái nhìn của người đã quen “thiền quán”, không dừng ở vẻ bề ngoài, mà xuyên thấu vào gốc rễ đau khổ. Cách kể ấy khiến văn xuôi của Mộc Trầm gần với thể loại kệ, gợi liên tưởng đến Pháp cú trong Phật giáo – nơi những câu chuyện không hoàn chỉnh nhưng lại mở ra những cánh cửa tư duy. Khi chủ thể kể chuyện không đặt mình ở vị trí giảng đạo, và điểm nhìn trần thuật không mang định kiến, thì bản thân câu chuyện trở thành một “pháp thoại”. Không phải bài giảng trên pháp tòa, mà là một lời thì thầm giữa đời thường. Những câu chuyện trong Lén nhặt chuyện đời hay Dẫu có ra đi vẫn sẽ cười giống như những mẫu chuyện nhỏ mà thiền sư kể với học trò: không nhiều lời, không giải thích, nhưng khiến người nghe phải suy ngẫm. Thật ra, cách Mộc Trầm kể chuyện rất gần với tinh thần Bát nhã: không trụ tướng, không trụ ngôn, mà để cho sự sống “tự kể” bằng chính nó. Từ đó, tác phẩm không đơn thuần là văn học, mà là một hành trình hành thiền bằng chữ.
Trong thời đại mà văn học có xu hướng hướng ngoại, kể chuyện theo kiểu tốc độ, thì Mộc Trầm chọn cho mình một hướng đi ngược: kể chuyện bằng sự tĩnh lặng. Và sự tĩnh lặng ấy không hời hợt, mà bắt rễ từ một tâm thức Phật giáo. Từ chủ thể trần thuật mang tính chất thiền giả, đến điểm nhìn như một ánh mắt từ bi, nghệ thuật kể chuyện của Mộc Trầm mang đậm cảm hứng Phật giáo – không cần tuyên ngôn, không cần giáo điều. Chỉ cần kể – nhẹ như một hơi thở, sâu như một tiếng chuông chùa. Tác phẩm của Mộc Trầm vì thế không chỉ là văn chương, mà còn là một cánh cửa tỉnh thức. Mỗi truyện ngắn như một bước chân kinh hành, mỗi nhân vật như một chúng sinh đang đi trên con đường giải thoát. Và người kể chuyện – dù là “tôi” hay ẩn danh – vẫn lặng thầm gieo xuống đời những mầm ý thức mới: “Dẫu có ra đi vẫn sẽ cười”. Trong xuyên suốt hai tác phẩm, Mộc Trầm đã hóa thân thành nhiều nhân vật, nhiều hoàn cảnh, tạo nên nhiều lớp nhân vật được đặc tả riêng biệt với từng nét tính cách khác nhau tạo nên một tổng thể thật đặc sắc, từ các cô cậu học trò, người phật tử đi chùa, người có tình yêu, người mô côi, người đau bệnh hiểm nghèo, người mắc bệnh thế kỷ, người già, và cả người tu sĩ. Tác giả đã xuất sắc hóa thân thành các nhân vật một cách tinh tế và mượt mà không có một chút “cặn”, dù ở hình tượng nhân vật nào, tác giả đã là cho họ sống là chính họ, đặt để họ vào nhiều trường hợp, hoàn cảnh thậm chí là nghịch cảnh nhưng đều sống trọn với vai trò của họ. Đặc biệt, sau một tình huống hay hoàn cảnh đó, tác giả đều khơi mở kèm theo là bài học về bài học giáo lý, tuy là mang mác truyền đạt, nhưng sự thể hiện của tác giả làm người đọc lĩnh hội những chân lý đó một cách tự nhiên và vô cùng nhẹ nhàng khi tiếp nhận. Bên cạnh tư tưởng giáo lý Phật giáo, tác giả luôn lồng ghép quan điểm hội nhập và phát triển của cá nhân người tu sĩ trẻ trong xã hội hiện đại, không bị rập khuôn như trước kia các vị tu sĩ khác đã làm, và việc khéo léo lồng ghép những lời dạy của Đức Phật giúp người đọc thẩm thấu và hiểu tận tường thông điệp đó một cách mau lẹ và rất phù hợp với các trào lưu, xu hướng của giới trẻ. Trong hai tập truyện Lén nhặt chuyện đờiDẫu có ra đi vẫn sẽ cười, tác giả Mộc Trầm đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật riêng biệt, nơi tiếng nói trần thuật không chỉ là phương tiện kể chuyện, mà là kênh truyền dẫn đạo lý Phật giáo thông qua cấu trúc tự sự đặc thù.
Chủ thể trần thuật không hiện diện như một nhân vật trung tâm mà giữ vai trò gần như vô ngã – một người kể chuyện lặng lẽ, khiêm nhường, như thể tự mình tan vào dòng đời để phản chiếu những hạt ánh sáng giác ngộ lấp lánh từ trong khổ đau. Với Mộc Trầm, hình thức nghệ thuật được tổ chức trên nền của một giọng kể vô ngã, nhằm truyền đạt những lớp ý nghĩa sâu xa không phải bằng diễn ngôn trực tiếp, mà bằng thao tác cấu trúc trần thuật thấm nhuần tinh thần Phật giáo. Chủ thể trần thuật trong các tác phẩm này chính là biểu hiện của một cái nhìn nghệ thuật đã vượt khỏi ranh giới hiện thực chủ nghĩa. Họ không kể chuyện để trình bày sự kiện, mà để kiến tạo một không gian tâm linh, nơi từng hình ảnh, từng câu chữ trở thành biểu tượng cho một tiến trình chuyển hóa nội tâm. Mộc Trầm đã lựa chọn cách biểu đạt gắn liền với một tư duy thẩm mỹ Phật giáo: nhẹ, lặng, từ bi, buông xả. Chính sự rút lui khỏi trung tâm này là lựa chọn thi pháp mang màu sắc Phật giáo sâu sắc: chủ thể kể chuyện như một pháp thân vô ngã, truyền đạt bằng sự vắng mặt hữu ý. Chủ thể kể chuyện trong truyện ngắn của Mộc Trầm chính là người như vậy: họ làm cho tiếng nói của từ bi, của vô thường, của nhân quả, của buông xả được vang lên từ trong thinh lặng. Khi soi chiếu theo thi pháp học của Trần Đình Sử, có thể khẳng định rằng chủ thể trần thuật trong truyện ngắn của Mộc Trầm không đơn thuần là một kỹ thuật kể chuyện, mà là một lựa chọn nghệ thuật thấm nhuần quan điểm tư tưởng. Chủ thể ấy hiện thân cho một hình thức truyền đạt giáo lý đặc thù – dựa trên sự rút lui, im lặng, thấu cảm và buông xả. Chủ thể trần thuật của Mộc Trầm chính là tinh thần Phật giáo đã hóa thân vào thi pháp tự sự, để từ đó, đời sống con người hiện lên không chỉ như một chuỗi biến cố, mà như một hành trình đi qua khổ đau để tìm thấy ánh sáng của từ bi và giác ngộ.
Sự kết hợp đa dạng điểm nhìn trần thuật hướng vào thế giới tinh thần là một đặc điểm thi pháp nổi bật trong truyện ngắn của Mộc Trầm, góp phần làm sâu sắc thêm chiều kích Phật giáo của tác phẩm. Nếu chủ thể trần thuật là “người kể lặng lẽ” thì điểm nhìn mà chủ thể đó lựa chọn lại vô cùng linh hoạt, vừa chuyển động trên bề mặt của sự kiện, vừa thâm nhập sâu vào nội tâm con người – đặc biệt là những góc khuất tâm lý, những xung động vô hình, những chuyển động thầm lặng của ý thức. Điểm nhìn trần thuật trong các tác phẩm cũng là biểu hiện thi pháp sâu sắc. Chủ thể trần thuật thường chọn điểm nhìn “từ trong ra” – từ nội giới nhân vật mà soi chiếu thế giới, như thể mời người đọc tham dự vào một quá trình quán chiếu. Theo Trần Đình Sử, điểm nhìn là "hệ quy chiếu tư tưởng – cảm xúc chi phối cách tổ chức và tiếp nhận thế giới nghệ thuật trong văn bản" [5, tr.97]. Trong tác phẩm của Mộc Trầm, điểm nhìn ấy không cố định ở một tầng bậc nhân vật hay người kể, mà thường xuyên dịch chuyển: có khi từ bên ngoài nhìn vào nhân vật như một đối tượng chiêm nghiệm, có khi lại nhập vào tâm trạng nhân vật để tái hiện một thế giới ý niệm mờ nhoè, dằn vặt và tự cứu rỗi. Đó chính là sự dung hợp giữa điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn thiền quán và điểm nhìn biểu tượng – một cách kết cấu mở giúp khắc họa chiều sâu của đời sống tinh thần. Điểm nhìn tâm lý được triển khai mềm mại, tự nhiên, không rạch ròi giữa ngoại giới và nội giới, mà giống như một dòng nước thấm từ bên ngoài vào tận nỗi niềm của nhân vật. Đây là cách thức thi pháp đặc biệt giúp làm nổi bật niềm tin Phật giáo về sự liên kết giữa các cõi giới – cõi người và cõi âm, sự sống và cái chết – không thông qua tranh luận triết học, mà qua điểm nhìn thấm đẫm cảm xúc. Mộc Trầm đã tận dụng cách thường xuyên đặt nhân vật vào những tình huống nửa thực nửa mộng, nơi mà ý thức không còn tuyến tính. Các truyện như Những kiếp người lâm li, Hãy an nhàn đợi đến lúc lâm chung, Những người xưa dần hoá thành thiên cổ,… đều có chung một kiểu điểm nhìn: bắt đầu bằng cái nhìn đời thường, nhưng càng về sau càng chìm sâu vào những câu hỏi bản thể, những cảm nhận siêu nghiệm. Đặc biệt, có thể nhận thấy sự hiện diện của điểm nhìn thiền quán – một loại điểm nhìn đặc thù chưa được phân loại cụ thể trong lý luận thi pháp phương Tây, nhưng hoàn toàn tương thích với nhận định của Trần Đình Sử về sự “chuyển hóa điểm nhìn theo hệ giá trị phương Đông” [5, tr.165].
Trong điểm nhìn này, thế giới không được nhìn bằng con mắt phân biệt, mà bằng con mắt “chánh niệm” – mọi sự vật hiện lên như nó đang là, không phán xét, không đánh giá, chỉ đơn thuần được quan sát. Ở đây, nghệ thuật kể chuyện trở thành một hành vi thiền định, mà điểm nhìn của người kể chuyện chính là tâm ý đang tĩnh tại, lặng lẽ thắp sáng từng hạt bụi của đời sống. Bên cạnh điểm nhìn tâm lý và thiền quán, Mộc Trầm còn vận dụng điểm nhìn biểu tượng, nơi mọi chi tiết đều mang khả năng gợi mở huyền nhiệm. Một tiếng chuông, một làn khói nhang, một chiếc dép rách… đều trở thành “trường ngữ nghĩa mở” – như cách Trần Đình Sử định nghĩa: “Khi điểm nhìn chuyển hóa sự vật thành biểu tượng, thì bản thân văn bản trở thành một hệ thống biểu đạt tầng sâu, không chỉ phản ánh mà còn biểu cảm và biến hình hiện thực” [5, tr.203]. Chính sự kết hợp linh hoạt, đa dạng các điểm nhìn trần thuật ấy đã làm nên nét đặc sắc trong thi pháp kể chuyện của Mộc Trầm, đồng thời thể hiện sâu sắc một chiều kích tư tưởng mang màu sắc Phật giáo: cuộc đời không chỉ là chuỗi biến cố bên ngoài, mà là dòng trôi của ý thức; thế giới không chỉ là cái hiện ra trước mắt, mà là cái được chiếu rọi từ bên trong và nghệ thuật kể chuyện không chỉ là phương tiện tái hiện đời sống, mà là một hành vi “tỉnh thức văn chương” – như một hình thức thực hành Phật pháp bằng ngôn ngữ.
2.2. Sự pha trộn ngôn ngữ Phật giáo với ngôn ngữ đời thường và sự đan xen giọng điệu dí dỏm, hào sảng với giọng điệu triết lí, suy tư
Ngôn từ phật giáo từ xa xưa cho tới hiện tại là loại ngôn ngữ chứa đựng một cảm xúc riêng, mang lại cho người đọc cảm giác thanh tịnh, nhẹ nhàng trong khuôn phép, phù hợp với mọi quy chuẩn, hành vi đối xử trong chốn thiền môn, có thể nói âm điệu của ngôn ngữ Phật giáo là độc bản, truyền tải tư tưởng nhưng không nặng nề, bởi lẽ tính chất của Phật giáo là sự nhập vào thế tục một cách trơn tru, nhẹ nhàng, mà không đặt nặng, ép buộc tính giáo điều, bám chấp vào một hình thức luật lệ nào.
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện Mộc Trầm, dù mang tinh thần từ bi và thiền quán, không phải lúc nào cũng u tịch và trang nghiêm, mà có khi dí dỏm, hào sảng, thậm chí có chút giễu nhẹ, tự trào. Giọng kể như vậy tạo nên một thứ “hài” đặc biệt: không nhằm gây cười để chế giễu, mà để cởi mở, hóa giải, khiến cái khổ, cái vô thường trở nên nhẹ nhàng, dễ đón nhận. Trần Đình Sử trong nghiên cứu về tự sự hiện đại từng cho rằng: “Giọng điệu không chỉ là màu sắc tình cảm của lời kể mà còn là phương tiện biểu hiện thế giới quan và đạo lý của người viết.” [5, tr.217]. Trong Mộc Trầm, sự đan xen giữa nghiêm và tếu, giữa đạo lý và đời thường, giữa cao sâu và bông đùa, chính là biểu hiện sống động của cái nhìn Phật giáo về thế giới: mọi pháp đều duyên sinh, không có gì là cố định, kể cả cách nói. Ngôn ngữ Phật giáo trong truyện không bị thần thánh hóa, mà được “thế tục hóa” một cách tự nhiên, hòa vào mạch sống, mạch nghĩ, mạch nói của những con người bình dị. Một bà lão rủ cháu “niệm Phật đi con, sắp đến giờ cơm rồi” – câu nói khiến ta thoáng bật cười, nhưng sau nụ cười là một triết lý sống: tu không tách rời đời, tu giữa chợ, giữa nồi niêu, giữa tiếng rao buổi sáng và chuông chùa buổi chiều. Đó là lối ngôn ngữ “hạ cố” của Phật pháp, như Trần Đình Sử nhận định: “Văn học hiện đại tìm về cái thiêng không phải bằng cách siêu hình hóa, mà bằng cách nhân gian hóa, đời sống hóa cái thiêng.” [5, tr.273] Sự pha trộn giữa ngôn ngữ Phật giáo và ngôn ngữ đời thường trong Mộc Trầm không gây lệch giọng mà tạo ra một loại ngôn ngữ kép: vừa thanh tịnh vừa dân dã, vừa siêu thoát vừa trần tục, vừa như lời pháp thoại vừa như chuyện hàng xóm. Câu văn như: “Bả mất rồi, giờ chắc đang ngồi đếm công đức trên cõi khác, chớ dưới này tụi nhỏ lo lú hết trơn” – vừa là một lời cảm thán dân dã, vừa gợi một kiểu nghĩ đã thấm nhuần luật nhân quả, luân hồi. Cái hài ở đây không mỉa mai mà khai mở, không khép lại câu chuyện mà mở ra một chiều suy tưởng khác về sự sống – sự chết. Giọng kể dí dỏm ấy cũng là một cách để người viết giữ tâm thế bình đẳng trước nhân vật – không ai được ưu tiên hơn, không ai bị phán xét, kể cả người xấu, người khổ, người đã chết. Từ đó, tác phẩm thiết lập được một hệ ngôn ngữ “trung đạo” – không lên án, cũng không tán dương tuyệt đối, mà để mọi việc “tự nói lấy mình”. Ngay cả những khái niệm tưởng như mang trọng lượng giáo lý như “nghiệp”, “quả”, “hồi hướng”, “đầu thai”, khi được đưa vào trong ngữ cảnh thường nhật, không làm mất đi chiều sâu tôn giáo mà lại tạo ra cảm giác gần gũi, sống động – đưa đạo vào đời một cách tự nhiên, không cưỡng ép. Trần Đình Sử trong khi bàn về tính biểu hiện của giọng điệu từng viết: “Khi giọng điệu hòa quyện giữa nhiều dạng cảm xúc khác nhau mà vẫn giữ được sự cân bằng, đó là dấu hiệu của một thi pháp trưởng thành – không thiên lệch, không tuyệt đối hóa” [5, tr.225]. Mộc Trầm đã làm được điều đó – kể chuyện sinh tử như kể một buổi trưa hè, nói về luân hồi như nói chuyện góc bếp, viết về tâm từ như nói về chuyện nấu cơm chay cho đám giỗ. Chính nhờ sự linh hoạt ấy trong ngôn ngữ – nơi cái vui và cái buồn, cái tĩnh và cái động, cái sắc bén và cái hiền hòa cùng trú ngụ – mà truyện ngắn của Mộc Trầm có thể đưa đạo lý Phật giáo đến với người đọc không phải qua giảng dạy, mà qua trải nghiệm sống. Người đọc không cần biết khái niệm “duyên sinh”, nhưng họ sẽ cảm nhận được “duyên sinh” khi đọc về người phụ nữ ngồi lặng bên mâm cơm vắng, hay một chú tiểu gom lá khô dưới chân tượng Phật hoen màu. Và có thể nói ngôn ngữ trần thuật trong truyện Mộc Trầm là một kết cấu sống động giữa giọng kể hài hước nhẹ nhàng và ngôn ngữ tâm linh trầm lắng, giữa lời kinh và lời đời. Sự kết hợp ấy làm cho truyện không rơi vào hàn lâm hay giản đơn, mà giữ được chất “đạo vị” trong một hình thức “bình dị”, đúng như tinh thần Phật giáo: “Pháp nào cũng là Phật pháp nếu khéo thấy duyên khởi”. Và chính nhờ đó, Mộc Trầm đã góp một tiếng nói mới cho văn học Phật giáo đương đại: tiếng nói của từ bi, tỉnh thức, nhưng không xa rời cuộc đời.
Một đặc điểm nổi bật trong giọng điệu trần thuật của Mộc Trầm là sự đan xen tự nhiên giữa sự dí dỏm, hào sảng và chiều sâu triết lý, suy tư. Giọng văn không bị kẹt trong một cung bậc duy nhất, mà linh hoạt chuyển dịch theo cảm thức nhân sinh, khi thì nhẹ nhõm, tinh nghịch, khi thì lặng sâu, chiêm nghiệm. Cũng giống như Phật giáo nhìn cuộc đời với tâm thế “cười trong vô thường”, truyện ngắn của Mộc Trầm mang một vẻ hài mà không cười cợt, trí tuệ mà không huyền bí, từ đó mở ra một giọng điệu đa tầng – vừa là nghệ thuật, vừa là phương tiện để biểu hiện một cái nhìn bao dung, thức ngộ. Giọng điệu dí dỏm, hào sảng thường xuất hiện trong những tình huống sinh hoạt đời thường, gắn với nhân vật có cá tính thẳng thắn, chân chất, nghe thì buồn cười nhưng lại ẩn chứa sau đó một nỗi đau đã được tiêu hóa bằng nhận thức về vô thường. Người kể không cần giải thích, không cần than vãn, chỉ ném ra những câu thoại như tiếng chuông khẽ chạm vào sự tỉnh thức của người đọc. Chính sự hào sảng ấy giúp câu chuyện thoát khỏi bi lụy, thoát khỏi kiểu “tả thực thống khổ”, và đưa nhân vật đến gần hơn với sự chấp nhận, hóa giải. Ở chiều ngược lại, giọng điệu triết lí, suy tư lại được thể hiện qua những đoạn độc thoại nội tâm, những suy ngẫm về mất, còn, sinh, tử, và những khoảnh khắc tĩnh tại của nhân vật.
Mộc Trầm không để nhân vật suy tư bằng lý lẽ, mà để họ “ngộ” bằng trực giác sống, bằng lặng im, bằng ánh mắt nhìn mưa rơi trên nóc chùa, hay chiếc lá vàng rơi xuống giếng cạn. Câu văn giản dị: “Người đi không mang gì, người ở chẳng giữ được gì, chỉ có một lời chào lặng trong gió” – là giọng văn triết lý thấm đẫm tinh thần Phật giáo, không giảng đạo nhưng đầy hàm ý vô ngã. Trần Đình Sử trong khi bàn về sự đa giọng trong trần thuật hiện đại, từng nhấn mạnh: “Giọng điệu không phải chỉ là cách kể mà là cách người viết định vị mình và nhân vật trước thế giới” [5, tr.216]. Ở đây, chính sự đan xen giữa giọng kể hài hước và suy tư triết lý đã giúp nhà văn giữ được tâm thế trung đạo: vừa không sa vào cảm tính bi lụy, vừa không rơi vào triết lý khô khan. Truyện trở thành một hành trình của nhận thức, trong đó cái hài và cái triết không đối lập, mà nâng đỡ nhau – như hai mặt của đồng tiền nhân sinh. Sự đan xen giọng điệu này cũng cho phép Mộc Trầm mở ra một phạm vi tiếp nhận rộng: người đọc phổ thông có thể cảm nhận cái cười nhẹ nhàng, cái xúc động âm thầm; người đọc sâu hơn lại có thể nhận ra sự vận động của những lớp nghĩa tinh thần nằm sau mỗi đoạn văn. Đây chính là biểu hiện rõ nét của một thi pháp hiện đại theo tinh thần Trần Đình Sử: “Văn học không chỉ kể chuyện mà còn đặt ra vấn đề về con người, về sự tồn tại, và về những giới hạn của chính sự kể” [5, tr.302]. Trong Lén nhặt chuyện đời, có trích đoạn ngắn với tựa đề “Lỡ mai này mồ côi” đây không chỉ là một trích đoạn cảm động, mà còn là một thực hành thi pháp có chiều sâu, cho thấy sức mạnh biểu đạt của giọng điệu trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật và truyền tải thông điệp nhân sinh. Với “Lỡ mai này mồ côi”, tác giả không lựa chọn một giọng điệu độc nhất. Ngược lại, văn bản là tổ chức của nhiều tầng giọng: từ giọng hồn nhiên trẻ thơ đến giọng hoài niệm cảm xúc, từ giọng triết lý nhân sinh đến giọng đau đáu vô thường của Phật giáo. Điểm đặc biệt của văn bản là từ giữa về sau, giọng điệu dần trầm xuống. Người viết đưa vào cảm thức vô thường, mất mát, như một dự cảm cho sự mồ côi trong tương lai: “Xin ba mẹ, cho phép cho con một đời này được làm đứa con bất hiếu, không ở bên ba mẹ đến trọn đời.”[8, tr.67],“Rồi cũng sẽ có một ngày nào đó, ba lại về với đất, mẹ đi với mây trời…”[8, tr.67] Toàn bộ “Lỡ mai này mồ côi” là một cuộc đối thoại nội tâm đầy chân thành. Sự đan xen giữa các kiểu giọng điệu tạo thành một văn bản đa thanh, nơi từng lớp cảm xúc không triệt tiêu mà nâng đỡ lẫn nhau. Cái tài của Mộc Trầm là trong cùng một ngữ cảnh, vẫn có thể đan cài những giọng điệu ấy mà không làm vỡ cấu trúc cảm xúc của truyện. Một đám tang có thể vừa được nhìn như một sự kiện nghi thức, vừa là nơi tri nhận sự vô thường, vừa là dịp để người thân nói những lời bông đùa, vừa là khoảnh khắc lặng thầm nhìn lại đời mình. Giọng văn vì thế mà có nhiều lớp: ngoài sự kiện là tâm sự, ngoài lời thoại là tiếng lòng, ngoài tiếng cười là nước mắt đã kịp khô. Giọng điệu trong truyện ngắn Mộc Trầm không đơn nhất mà là sự pha trộn nghệ thuật giữa dí dỏm – hào sảng và triết lý – suy tư. Đây không chỉ là một lựa chọn tu từ, mà là biểu hiện của một cách cảm đời theo tinh thần Phật giáo: cười mà không khinh, khóc mà không buộc, kể mà không ép nghĩa. Giọng điệu ấy khiến truyện ngắn vượt khỏi hình thức kể chuyện đơn thuần để trở thành một không gian vừa thân tình vừa giác ngộ, vừa đậm chất nhân gian vừa nghiêng về chiều sâu bản thể.
z7787545472801 41cb1d84c6fcf9bbdcb4445075a065d5
  1. Kết luận
Qua việc phân tích thi pháp truyện kể trong hai tập truyện ngắn Lén nhặt chuyện đờiDẫu có ra đi vẫn sẽ cười của Mộc Trầm, chúng tôi đã chỉ ra rằng chủ thể trần thuật trong tác phẩm được kiến tạo theo tinh thần vô ngã của Phật giáo, lặng lẽ dẫn dắt câu chuyện mà không áp đặt. Bên cạnh đó, việc thay đổi điểm nhìn trần thuật thể hiện sự chuyển dịch linh hoạt cao độ, liên tục giữa hiện thực và chiều kích tâm linh, tạo nên không gian nghệ thuật đa tầng, thấm đẫm tư tưởng thiền môn. Ngoài ra, sự kết hợp ngôn ngữ và giọng điệu vừa dí dỏm, vừa sâu lắng, triết lý đã giúp Mộc Trầm truyền tải những giáo lý Phật giáo một cách tự nhiên, không giáo điều. Tổng hòa các yếu tố trên, Mộc Trầm đã góp phần làm mới phương thức truyền đạt giáo lí cũng như thi pháp văn học Phật giáo đương đại, từ đó chứng minh rằng tinh thần từ bi và giác ngộ có thể được chuyển tải một cách hiệu quả thông qua nghệ thuật kể chuyện độc đáo. Hai tác phẩm đã mở ra một cách tiếp nhận mới đối với các vấn đề Phật giáo dưới góc độ tương tác giữa nghệ thuật ngôn từ và tư tưởng tôn giáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
  2. Thích Thiện Hoa (2011), Phật học phổ thông, Nxb. Phương Đông, Tp Hồ Chí Minh.
  3. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển Thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  4. Lã Nguyên (2017), Lý luận văn học - những vấn đề hiện đại, Nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội.
  5. Trần Đình Sử (2017), Dẫn luận thi pháp học văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  6. Tz. Todorov (2004), Thi pháp văn xuôi, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  7. Đỗ Lai Thúy (biên soạn, 2001), Nghệ thuật như là thủ pháp, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
  8. Mộc Trầm (2019), Lén nhặt chuyện đời, Nxb. Thế giới, Tp Hồ Chí Minh.
  9. Mộc Trầm (2022), Dẫu có ra đi vẫn sẽ cười, Nxb. Thế giới, Tp Hồ Chí Minh.

Tác giả: hkhtamlygiaoduc, Nguyễn Quang Quốc Khánh, Nguyễn Lương Minh Ngọc. Sinh viên Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Cựu học sinh Trung tâm GDNN - GDTX Gio Linh.

Nguồn tin: Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Quảng Trị:

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi